Bài viết này dựa trên luật Đài Loan. Buổi tư vấn diễn ra bằng tiếng Trung; nếu cần phiên dịch, hãy cho chúng tôi biết khi gửi yêu cầu.
Không nhất thiết. Việc công ty điều tra bắt nạt nơi làm việc là thủ tục lao động và hành chính. Chỉ khi một hành vi cụ thể đồng thời đủ yếu tố cấu thành tội phạm, và có người yêu cầu truy tố hoặc công tố viên điều tra, thì mới thành vụ án hình sự. Xúc phạm công khai, phỉ báng và gây thương tích thông thường về nguyên tắc là tội chỉ truy tố khi có yêu cầu của người có quyền yêu cầu truy tố (告訴乃論), và phải yêu cầu trong vòng sáu tháng kể từ khi biết người phạm tội là ai. Riêng công chức gây thương tích thông thường trong lúc thi hành công vụ thì không cần yêu cầu truy tố (Điều 287 Bộ luật Hình sự).
Hai thủ tục riêng biệt
Theo Điều 22-1 khoản 1 Luật An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp, bắt nạt nơi làm việc là khi người lao động đang làm việc tại nơi làm việc bị người của chính đơn vị mình (事業單位人員) lợi dụng chức vụ, quyền thế hoặc quan hệ tương tự, vượt quá phạm vi cần thiết và hợp lý cho công việc, liên tục dùng lời nói hay hành vi xúc phạm, đe dọa, lạnh nhạt, cô lập, sỉ nhục hoặc không đúng mực khác, khiến sức khỏe thể chất hoặc tinh thần bị tổn hại; nếu tình tiết nghiêm trọng thì không cần kéo dài liên tục. Định nghĩa này quyết định nghĩa vụ phòng chống và xử lý của chủ sử dụng lao động, chứ không phải là yếu tố cấu thành tội phạm.
Công ty nhận đơn, lập nhóm điều tra và ra quyết định là thủ tục lao động và hành chính; nếu chủ sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ, hậu quả chủ yếu là bị cơ quan chủ quản phạt tiền hành chính. Thủ tục hình sự là một con đường khác: người bị hại yêu cầu truy tố với cảnh sát hoặc công tố viên, hoặc công tố viên tự điều tra theo thẩm quyền. Không phải mọi hành vi bắt nạt nơi làm việc đều là tội phạm; chỉ khi hành vi cụ thể đủ yếu tố cấu thành theo Bộ luật Hình sự hoặc luật khác thì mới có trách nhiệm hình sự. Hai thủ tục có thể diễn ra cùng lúc, và kết luận cũng có thể khác nhau.
Xúc phạm công khai: không phải câu khó nghe nào cũng thành tội
Điều 309 Bộ luật Hình sự xử phạt người xúc phạm người khác một cách công khai. Phán quyết 113-Hsien-Pan-3 của Tòa án Hiến pháp cho rằng điều luật này hợp hiến nhưng thu hẹp phạm vi áp dụng: phải xét lời nói trong bối cảnh cụ thể, xem người nói có cố ý công khai hạ thấp danh dự người khác đến mức vượt quá sức chịu đựng hợp lý của người bình thường hay không, rồi cân nhắc giữa danh dự và tự do ngôn luận. Chỉ khi cân nhắc xong mà danh dự đáng được ưu tiên hơn thì lời nói đó mới bị phạt; câu nói khó nghe ở nơi làm việc có thuộc trường hợp này hay không phải xét từng vụ. Lưu ý: phần quyết định chính của phán quyết là cách giải thích thu hẹp để điều luật hợp hiến “trong phạm vi đó”, không tuyên bố điều luật vi hiến; các phần còn lại xem xét bản án của từng vụ cụ thể, nên không thể dùng để suy ra kết quả của vụ khác.
Phê bình gay gắt hoặc lời nói trong lúc xúc động ở nơi làm việc không tự động là xúc phạm công khai. Cần xem lời nói, bối cảnh, người liên quan và chứng cứ.
Nguồn: Tóm tắt Phán quyết 113-Hsien-Pan-3 của Tòa án Hiến pháp ↗.
Phỉ báng: nêu ra hoặc truyền lại chuyện làm tổn hại danh dự
Điều 310 xử phạt người, với ý định lan truyền cho nhiều người biết, nêu ra hoặc truyền lại chuyện đủ để làm tổn hại danh dự người khác. Nếu chứng minh được chuyện đó là thật thì không bị phạt, trừ chuyện thuộc đời tư, đạo đức cá nhân và không liên quan đến lợi ích công cộng. Phán quyết 112-Hsien-Pan-8 của Tòa án Hiến pháp (năm 2023), bổ sung cho Giải thích số 509 của Tư pháp Viện, cho rằng: với chuyện liên quan đến lợi ích công cộng, dù người nói không chứng minh được là thật, nhưng nếu trước khi nói đã kiểm chứng hợp lý và dựa vào chứng cứ có trong tay thì có thể tin một cách khách quan rằng nội dung là thật, thì cũng không bị phạt; đã kiểm chứng hợp lý hay chưa do tòa cân nhắc theo từng vụ. Ngoài ra, Điều 2 Quy định Phòng chống Bắt nạt Nơi làm việc cũng coi việc “cố ý tung tin đồn hoặc tiết lộ đời tư” là một tình tiết cần xem xét khi xác định có bắt nạt hay không.
Đe dọa, cưỡng ép, gây thương tích
Dọa gây hại đến tính mạng, thân thể, tự do, danh dự hoặc tài sản của người khác, khiến an toàn của họ bị nguy hại, có thể phạm tội đe dọa gây nguy hại an toàn (Điều 305 Bộ luật Hình sự). Dùng bạo lực hoặc đe dọa để buộc người khác làm việc họ không có nghĩa vụ phải làm, hoặc cản trở họ thực hiện quyền, có thể phạm tội cưỡng ép (Điều 304). Gây thương tích cho thân thể người khác có thể phạm tội gây thương tích (Điều 277 khoản 1). Mỗi tội đều phải chứng minh các yếu tố riêng.
Tội chỉ truy tố theo yêu cầu và thời hạn sáu tháng
| Điều luật | Có cần người bị hại yêu cầu truy tố không? |
|---|---|
| Điều 309 và 310 Bộ luật Hình sự: xúc phạm công khai và phỉ báng | Có (Điều 314) |
| Điều 277 khoản 1 Bộ luật Hình sự: gây thương tích thông thường | Có, trừ khi công chức phạm tội trong lúc thi hành công vụ (Điều 287) |
| Điều 305 Bộ luật Hình sự: đe dọa gây nguy hại an toàn | Không |
| Điều 304 Bộ luật Hình sự: cưỡng ép | Không |
Với tội chỉ truy tố theo yêu cầu, người có quyền phải yêu cầu trong vòng sáu tháng kể từ khi biết người phạm tội là ai (Điều 237 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Trong khi đó, đơn khiếu nại bắt nạt gửi chủ sử dụng lao động có thời hạn ba năm kể từ khi hành vi kết thúc; nếu người bị khiếu nại là người lợi dụng quyền thế, bạn còn có thể khiếu nại trong vòng một năm kể từ ngày nghỉ việc, lấy thời hạn nào dài hơn (Điều 8 Quy định Phòng chống Bắt nạt Nơi làm việc; nếu người bị khiếu nại là người đứng đầu doanh nghiệp và bạn khiếu nại lên cơ quan địa phương thì theo Điều 22-3 khoản 2 Luật An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp). Hai loại thời hạn khác nhau rất xa về mốc tính và độ dài; nếu đang tính yêu cầu truy tố, hãy kiểm tra sớm.
Nếu liên quan đến quấy rối tình dục tại nơi làm việc, sẽ xử lý theo Luật Bình đẳng Giới trong Việc làm và quy định về phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc (theo Điều 38-4 Luật Bình đẳng Giới trong Việc làm, tội theo Điều 25 Luật Phòng chống Quấy rối Tình dục cũng được áp dụng). Hành vi theo dõi, quấy rối liên quan đến tình dục hoặc giới tính thì có Luật Phòng chống Theo dõi và Quấy rối riêng. Nếu đơn khiếu nại bắt nạt có liên quan đến quấy rối tình dục tại nơi làm việc, chủ sử dụng lao động phải làm theo từng thủ tục tương ứng (Điều 27 của Quy định).
Nếu bạn là người bị khiếu nại: lời trình bày trong cuộc điều tra của công ty
Công ty sẽ lập biên bản các buổi phỏng vấn điều tra (Điều 16 của Quy định). Lời trình bày đó sau này có thể được đưa ra ở thủ tục khác, và người ta có thể so xem trước sau bạn nói có khớp nhau không. Vì vậy, trước buổi phỏng vấn hãy sắp xếp lại sự việc, phân biệt điều bạn nhớ rõ với điều bạn suy đoán, và đọc kỹ từng chữ trong biên bản.
Nếu nhận được giấy mời của cảnh sát hoặc giấy triệu tập của viện công tố, người bị tình nghi có thể chọn luật sư bào chữa; luật sư được có mặt khi hỏi cung và phát biểu ý kiến (Điều 245 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Chỉ khi có sự việc đủ cho thấy nguy cơ tiêu hủy chứng cứ, thông đồng với đồng phạm hoặc người làm chứng, hay các trường hợp luật định khác, thì luật sư mới có thể bị hạn chế hoặc không được có mặt.
Tóm lại
Bắt nạt nơi làm việc có dính đến hình sự hay không phụ thuộc vào hành vi cụ thể và chứng cứ, chứ không phải vào cái nhãn “bắt nạt”. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, và cách áp dụng trong thực tế vẫn đang hình thành. Bài viết này là thông tin chung, không phải ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể.
