Bài viết này dựa trên luật Đài Loan. Buổi tư vấn diễn ra bằng tiếng Trung; nếu cần phiên dịch, hãy cho chúng tôi biết khi gửi yêu cầu.
Nhận cáo trạng (起訴書) nghĩa là giai đoạn điều tra đã kết thúc và vụ việc chuyển sang xét xử; kết quả cuối cùng vẫn chưa được định đoạt. Vụ việc có thể đi theo một trong ba hướng: xét xử thông thường, xử theo thủ tục rút gọn, hoặc thỏa thuận nhận tội. Nộp tiền thay tù và án treo đều có điều kiện luật định riêng; có được áp dụng hay không tùy tình tiết từng vụ và sự cân nhắc của tòa. Bài này không dự đoán kết quả.
Nhận cáo trạng nghĩa là gì? Có chắc phải ra tòa không?
Cáo trạng cho biết công tố viên đã kết thúc điều tra và cho rằng có đủ căn cứ nghi bị cáo (被告 — luật Đài Loan dùng từ này ngay từ giai đoạn điều tra, tương đương cả “bị can” lẫn “bị cáo” ở Việt Nam) phạm tội. Công tố viên nộp cáo trạng lên tòa có thẩm quyền, trong đó ghi thông tin của bị cáo, sự việc phạm tội, chứng cứ và điều luật áp dụng, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng sang tòa (Điều 264 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Nếu công tố viên chỉ truy tố một phần của sự việc phạm tội, hiệu lực truy tố vẫn bao trùm toàn bộ sự việc đó (Điều 267).
Khi vào thủ tục xét xử thông thường, tòa triệu tập bị cáo hoặc người đại diện đến phiên xử, đồng thời báo cho công tố viên, luật sư bào chữa và người hỗ trợ (輔佐人). Tòa cũng phải triệu tập người bị hại hoặc người nhà để họ trình bày ý kiến, trừ khi họ đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng, đã nói rõ không muốn đến, hoặc tòa thấy không cần thiết hay không phù hợp (Điều 271 khoản 2). Có mở phiên xử hay không và bao nhiêu phiên là tùy mức độ phức tạp của vụ việc. Một lưu ý về phạm vi xét xử ở cấp phúc thẩm: theo quyết định 112-Tai-Shang-Da-991 (năm 2024) của Đại Hội đồng Hình sự Tòa án Tối cao Đài Loan, khi công tố viên chỉ kháng cáo phần hình phạt của bản án sơ thẩm, rồi đề nghị tòa phúc thẩm xét luôn một sự việc chưa ghi trong cáo trạng, thì nếu sự việc đó cùng với sự việc bản án sơ thẩm đã xác định tạo thành một tội về thực chất hoặc về mặt xét xử (實質上或裁判上一罪), tòa phúc thẩm phải xét xử chung. Có phải là “một tội” hay không vẫn phải xác định theo tình tiết từng vụ.
Xử theo thủ tục rút gọn là gì?
Nếu lời nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra hoặc các chứng cứ hiện có đã đủ để xác định hành vi phạm tội, tòa có thể, theo đề nghị của công tố viên, ra bản án hình sự theo thủ tục rút gọn mà không mở phiên xử thông thường; khi cần, tòa vẫn phải hỏi cung bị cáo trước khi tuyên hình phạt (Điều 449 khoản 1). Ngay cả khi công tố viên truy tố theo thủ tục thông thường, nếu bị cáo nhận tội và tòa thấy phù hợp, vụ việc vẫn có thể chuyển sang thủ tục rút gọn (Điều 449 khoản 2).
Theo thủ tục rút gọn, tòa chỉ được tuyên các hình phạt nêu tại Điều 449 khoản 3: án treo, án tù hoặc giam giữ ngắn hạn có thể nộp tiền thay hoặc làm lao động công ích thay, hoặc phạt tiền. Người đã nhận tội trong giai đoạn điều tra có thể nói với công tố viên mức hình phạt mình chấp nhận, hoặc mong được hưởng án treo. Nếu công tố viên đồng ý, công tố viên phải ghi vào biên bản và dựa ngay trên ý kiến đó để đề nghị tòa tuyên mức hình phạt hoặc án treo tương ứng (Điều 451-1 khoản 1).
Thỏa thuận nhận tội là gì? Ai có thể đề nghị?
Thỏa thuận nhận tội áp dụng cho mọi vụ, trừ tội có mức phạt tử hình, tù chung thân hoặc tù tối thiểu từ ba năm trở lên, và vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án Cấp cao. Sau khi đã truy tố hoặc đã đề nghị xử theo thủ tục rút gọn, và trước khi kết thúc phần tranh luận ở phiên sơ thẩm hoặc trước khi có bản án rút gọn, công tố viên có thể hỏi ý kiến người bị hại rồi, khi được tòa đồng ý, thương lượng với bị cáo (Điều 455-2 khoản 1). Công tố viên có thể tự mình đề xuất, hoặc làm theo yêu cầu của bị cáo, người đại diện hay luật sư. Nội dung thương lượng gồm mức hình phạt, việc xin lỗi, tiền bồi thường và khoản nộp vào công quỹ; riêng việc xin lỗi và bồi thường thì phải được người bị hại đồng ý. Khi hai bên thống nhất và bị cáo nhận tội, công tố viên đề nghị tòa chuyển sang xét xử theo thủ tục thỏa thuận (Điều 455-2 khoản 1–2).
除所犯為死刑、無期徒刑、最輕本刑三年以上有期徒刑之罪或高等法院管轄第一審案件者外,……經當事人雙方合意且被告認罪者,由檢察官聲請法院改依協商程序而為判決。(刑事訴訟法第455條之2第1項)
Tóm tắt không chính thức: Trừ các tội có khung hình phạt nặng và vụ án do Tòa án Cấp cao xử sơ thẩm, khi hai bên thống nhất và bị cáo nhận tội, công tố viên có thể đề nghị tòa xét xử theo thủ tục thỏa thuận nhận tội.
Thời gian thương lượng không được quá 30 ngày (Điều 455-2 khoản 3). Bản án theo thỏa thuận chỉ được tuyên án treo, tù đến hai năm, giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền (Điều 455-4 khoản 2). Nếu bị cáo chấp nhận mức tù trên sáu tháng, không được hưởng án treo và chưa có luật sư, tòa phải chỉ định luật sư công hoặc luật sư hỗ trợ việc thương lượng (Điều 455-5 khoản 1). Về nguyên tắc, không được kháng cáo bản án theo thỏa thuận nhận tội (Điều 455-10 khoản 1).
Khi nào được nộp tiền thay cho chấp hành tù?
Nếu tội bị xử có mức phạt cao nhất không quá năm năm tù và bạn bị tuyên không quá sáu tháng tù hoặc giam giữ ngắn hạn, bạn có thể nộp tiền thay cho chấp hành án (易科罰金), mỗi ngày tính 1.000, 2.000 hoặc 3.000 Đài tệ; trừ khi việc nộp tiền thay khó đạt mục đích cải tạo hoặc khó giữ trật tự pháp luật (Điều 41 khoản 1 Bộ luật Hình sự). Nếu được nộp tiền thay mà không xin, bạn có thể làm lao động công ích thay tù, cứ sáu giờ lao động tính bằng một ngày tù. Người bị tuyên không quá sáu tháng tù hoặc giam giữ ngắn hạn nhưng không đủ điều kiện nộp tiền thay cũng có thể làm lao động công ích theo cùng cách tính đó. Tuy nhiên, không được làm lao động công ích nếu vì sức khỏe thể chất hoặc tinh thần mà rõ ràng khó thực hiện, hoặc nếu việc đó khó đạt mục đích cải tạo hay khó giữ trật tự pháp luật (Điều 41 khoản 2–4).
Án treo là gì, tòa xét những yếu tố nào?
Án treo (緩刑) ở Đài Loan gần giống nhưng không hoàn toàn như án treo ở Việt Nam: tòa tuyên hình phạt nhưng tạm chưa thi hành trong một thời gian thử thách. Nếu bị tuyên không quá hai năm tù, giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền, và chưa từng bị tuyên phạt từ tù có thời hạn trở lên vì tội cố ý (hoặc đã từng bị tuyên nhưng trong năm năm kể từ khi chấp hành xong hay được ân xá không bị tuyên phạt như vậy vì tội cố ý nữa), tòa có thể cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ hai đến năm năm nếu thấy tạm chưa thi hành là phù hợp (Điều 74 khoản 1 Bộ luật Hình sự). Cho hưởng án treo hay không là quyền cân nhắc của tòa; bài này chỉ nêu các yếu tố, không dự đoán kết quả.
Khi cho hưởng án treo, tòa có thể tùy tình hình buộc người bị kết án xin lỗi người bị hại, viết bản cam kết hối lỗi, bồi thường thiệt hại hoặc nộp một khoản tiền, làm công việc phục vụ cộng đồng không lương (義務勞務), điều trị cai nghiện và các biện pháp khác (Điều 74 khoản 2). Những nghĩa vụ này được ghi trong bản án (Điều 74 khoản 3). Án treo không áp dụng cho hình phạt bổ sung, biện pháp bảo an và quyết định tịch thu (Điều 74 khoản 5).
Án treo có thể bị hủy không?
Có. Nếu cố ý phạm tội khác trước hoặc trong thời gian án treo, và trong thời gian án treo bị bản án có hiệu lực tuyên trên sáu tháng tù, thì án treo bị hủy; đơn đề nghị hủy phải nộp trong sáu tháng kể từ khi bản án đó có hiệu lực (Điều 75). Ngoài ra, tòa có thể hủy án treo trong ba trường hợp: cố ý phạm tội khác trước hoặc trong thời gian án treo và trong thời gian án treo bị bản án có hiệu lực tuyên không quá sáu tháng tù, giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền; phạm tội mới do vô ý trong thời gian án treo, đồng thời trong thời gian đó bị tuyên phạt tù bằng bản án đã có hiệu lực; hoặc vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ kèm theo án treo — nhưng chỉ khi thấy án treo khó đạt hiệu quả mong đợi và cần phải thi hành hình phạt (Điều 75-1 khoản 1).
Khi nào nên hỏi ý kiến luật sư?
Nên hỏi luật sư trước ngày ra tòa nếu bạn đã nhận cáo trạng hoặc đề nghị xử theo thủ tục rút gọn, đang cân nhắc có nên thỏa thuận nhận tội, cần chuẩn bị bào chữa cho phiên xử, hoặc muốn hiểu tòa xét những gì khi cho nộp tiền thay tù hay hưởng án treo. Trang này là thông tin chung, không phải tư vấn pháp lý cá nhân, và không bảo đảm kết quả của bất kỳ vụ việc nào.
