Bài viết này dựa trên luật Đài Loan. Buổi tư vấn diễn ra bằng tiếng Trung; nếu cần phiên dịch, hãy cho chúng tôi biết khi gửi yêu cầu.
Nếu cơ quan tư pháp thông báo hạn chế xuất cảnh đối với một người nước ngoài, Cục Di trú Quốc gia phải cấm người đó xuất cảnh (Điều 21 Luật Xuất nhập cảnh và Di trú, 入出國及移民法). Vụ án mà mức hình phạt nặng nhất chỉ là giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền thì không được hạn chế xuất cảnh trực tiếp (Điều 93-2 khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự, phần ngoại lệ). Bạn có thể tra cứu tại các trạm dịch vụ của Cục Di trú; nếu thời hạn lưu trú sắp hết, phải xin gia hạn hoặc xin thị thực lưu trú trước ngày hết hạn. Có về nước đúng lịch được hay không còn tùy việc bạn có bị hạn chế xuất cảnh không và vụ án đang ở giai đoạn nào; bài viết không dự đoán kết quả.
Đã làm việc với cảnh sát rồi, còn bay về theo lịch được không?
Điều quyết định là cơ quan tư pháp có thông báo hạn chế xuất cảnh đối với bạn hay không. Nếu có, Cục Di trú Quốc gia (移民署, NIA) phải cấm bạn xuất cảnh; khi bạn qua cửa kiểm tra xuất cảnh, Cục sẽ giao văn bản tận tay và cho biết lý do (Điều 21 Luật Xuất nhập cảnh và Di trú). Người đã bị cấm mà vẫn xuất cảnh sẽ bị xử phạt theo Điều 74 khoản 1 của luật này.
Nếu không bị hạn chế và bạn đã về nước, vụ án hình sự cũng không vì thế mà chấm dứt. Bị cáo (被告 — luật Đài Loan dùng từ này ngay từ giai đoạn điều tra, tương đương cả “bị can” lẫn “bị cáo” ở Việt Nam) đã được triệu tập hợp lệ mà không đến, lại không có lý do chính đáng, thì có thể bị áp giải (拘提) (Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự, 刑事訴訟法); người bỏ trốn hoặc lẩn tránh (逃亡或藏匿) có thể bị truy nã (通緝) (Điều 84). Vì vậy, trước khi rời Đài Loan, hãy xác định rõ tư cách của mình trong vụ án và mình có nghĩa vụ phải có mặt hay không; xem thêm Nhận giấy triệu tập của viện công tố địa phương, không đến thì sao?
Trong vụ án hình sự, việc hạn chế xuất cảnh, ra biển (限制出境、出海) do công tố viên hoặc thẩm phán quyết định theo Điều 93-2 khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự (刑事訴訟法). Về văn bản thông báo, thời hạn và cách khiếu nại, xem Bị hạn chế xuất cảnh, xuất hải thì làm sao? Thời hạn, thông báo và biện pháp khiếu nại.
外國人有下列情形之一者,移民署應禁止其出國:一、經司法機關通知限制出國。二、經財稅機關或各權責機關依法律通知限制出國。依前項規定禁止出國者,移民署於查驗時,當場以書面交付當事人,並告知其禁止出國之理由。(入出國及移民法第21條第1項、第2項)
Tóm tắt không chính thức: người nước ngoài bị cơ quan tư pháp, cơ quan thuế – tài chính hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thông báo hạn chế xuất cảnh theo luật thì Cục Di trú phải cấm xuất cảnh; khi kiểm tra xuất cảnh, Cục giao văn bản tận tay và nêu rõ lý do.
Vụ chỉ có mức phạt giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền thì có bị hạn chế xuất cảnh không?
Không được hạn chế ngay. Nếu tội bị nghi có mức hình phạt nặng nhất chỉ là giam giữ ngắn hạn (拘役) hoặc chỉ phạt tiền, công tố viên hay thẩm phán không được trực tiếp ra quyết định hạn chế xuất cảnh, ra biển (Điều 93-2 khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự, phần ngoại lệ). Ví dụ, tội xúc phạm công khai theo Điều 309 khoản 1 Bộ luật Hình sự chỉ bị phạt giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền đến 9.000 Đài tệ; nhưng nếu xúc phạm bằng bạo lực (khoản 2 cùng điều) thì khung hình phạt có cả tù có thời hạn.
Lưu ý, ngoại lệ này chỉ cấm việc hạn chế trực tiếp. Theo Điều 93-6, nếu theo quy định khác có thể buộc bị cáo nộp tiền bảo lãnh, giao cho người khác nhận trông coi (責付) hoặc hạn chế nơi cư trú, thì cũng có thể kèm theo lệnh hạn chế xuất cảnh, ra biển. Tội lái xe sau khi uống rượu hoặc dùng chất kích thích (Điều 185-3) và tội gây thương tích (Điều 277 khoản 1) đều có khung hình phạt tù, nên không thuộc ngoại lệ này. Xem thêm từng tội: vụ lái xe sau khi uống rượu, vụ gây thương tích và xúc phạm công khai hoặc phỉ báng.
被告犯罪嫌疑重大,而有下列各款情形之一者,必要時檢察官或法官得逕行限制出境、出海。但所犯係最重本刑為拘役或專科罰金之案件,不得逕行限制之:一、無一定之住、居所者。二、有相當理由足認有逃亡之虞者。三、有相當理由足認有湮滅、偽造、變造證據或勾串共犯或證人之虞者。(刑事訴訟法第93條之2第1項)
Tóm tắt không chính thức: Khi nghi vấn bị cáo phạm tội là rất rõ và có một trong các tình huống sau — không có nơi ở cố định; có căn cứ hợp lý cho thấy người đó có thể bỏ trốn; hoặc có căn cứ hợp lý cho thấy người đó có thể tiêu hủy, làm giả, sửa đổi chứng cứ hay thông đồng với đồng phạm, nhân chứng — thì khi cần, công tố viên hoặc thẩm phán có thể trực tiếp hạn chế xuất cảnh, ra biển. Ngoại lệ là vụ mà mức hình phạt nặng nhất chỉ là giam giữ ngắn hạn hoặc phạt tiền.
Làm sao biết mình có bị hạn chế xuất cảnh không?
Bạn có thể đến trạm dịch vụ (服務站) của Cục Di trú Quốc gia ở các huyện, thành phố để tra cứu. Theo hướng dẫn của Cục, người nước ngoài làm thủ tục như công dân có hộ tịch tại Đài Loan: chuẩn bị đủ giấy tờ theo yêu cầu rồi tự đến hoặc ủy quyền cho người khác đi thay, không mất phí. Quầy làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu, 08:00–17:00. Cục chỉ cung cấp thông tin của chính người hỏi; không có giấy ủy quyền của đương sự thì không tra cứu được thông tin của người khác.
Đang bị hạn chế xuất cảnh mà thời hạn lưu trú sắp hết thì làm sao?
Phải nộp đơn trước ngày hết hạn. Người nước ngoài cần ở lại tiếp phải xin gia hạn với Cục Di trú Quốc gia (Điều 31 khoản 1 Luật Xuất nhập cảnh và Di trú). Theo Điều 3 Quy định về lưu trú của người nước ngoài (外國人停留居留及永久居留辦法), đơn gia hạn nộp cho Cục trong vòng 15 ngày trước ngày hết hạn, kèm đơn, hộ chiếu, thị thực lưu trú (停留簽證) và các giấy tờ khác; tổng thời gian lưu trú không được quá 6 tháng. Khoản 2 của điều này liệt kê thêm các lý do có thể được xem xét gia hạn tiếp, chẳng hạn khi “tự do thân thể bị hạn chế theo luật” (人身自由依法受拘束). Còn việc bị hạn chế xuất cảnh có thuộc lý do đó hay không thì văn bản không nói rõ, nên hỏi Cục Di trú trước.
Nếu bạn nhập cảnh diện miễn thị thực mà không thể xuất cảnh trước khi hết hạn vì một trong các lý do tại Điều 4 Quy tắc thi hành Điều lệ Hộ chiếu và Thị thực nước ngoài (外國護照簽證條例施行細則) — mắc bệnh cấp tính nặng, gặp thiên tai hay sự kiện bất khả kháng khác, hoặc có lý do chính đáng khác — thì phải xin thị thực lưu trú tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao (外交部領事事務局) hoặc văn phòng chi nhánh (Điều 4 Quy định về lưu trú của người nước ngoài). Bị hạn chế xuất cảnh có được tính là một trong các lý do này không thì văn bản không quy định trực tiếp, nên hỏi trước cơ quan nhận hồ sơ. Ở quá hạn sẽ bị phạt tiền hành chính (罰鍰) từ 10.000 đến 50.000 Đài tệ (Điều 74-1 khoản 2 Luật Xuất nhập cảnh và Di trú).
Vụ án kết thúc thế nào thì lệnh hạn chế xuất cảnh được coi như đã hủy?
Lệnh hạn chế xuất cảnh, ra biển được coi như đã hủy khi bạn nhận quyết định không truy tố hoặc hoãn truy tố (緩起訴), hoặc khi tòa tuyên vô tội, miễn tố (免訴, tức vụ án không thể truy cứu nữa, ví dụ vì đã hết thời hiệu), miễn hình phạt, án treo (緩刑 — gần giống nhưng không hoàn toàn như án treo ở Việt Nam), phạt tiền hay chuyển thành khiển trách, hoặc ra một số bản án không thụ lý theo Điều 303 mục 3 hoặc mục 4 (Điều 93-4 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Tuy vậy, trong thời hạn kháng cáo hoặc khi đang kháng cáo, nếu cần thì vẫn có thể tiếp tục hạn chế. Trước khi vụ án đi đến kết quả đó, bị cáo và luật sư bào chữa cũng có thể xin hủy hoặc thay đổi biện pháp hạn chế (Điều 93-5 khoản 1).
Bản án theo thủ tục rút gọn là gì, có phải ra tòa xét xử không?
Không qua thủ tục xét xử thông thường. Nếu lời nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra hoặc các chứng cứ sẵn có đã đủ để xác định hành vi phạm tội, tòa sơ thẩm có thể, theo đề nghị của công tố viên, ra thẳng bản án theo thủ tục rút gọn; khi cần thiết, tòa phải hỏi cung bị cáo trước khi tuyên hình phạt (Điều 449 khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Hình phạt theo thủ tục này chỉ giới hạn ở: án treo; tù có thời hạn hoặc giam giữ ngắn hạn mà được phép chuyển sang nộp tiền hay lao động công ích; hoặc phạt tiền (khoản 3). Việc thi hành bản án do công tố viên chỉ đạo (Điều 457 khoản 1). Điều kiện và cách chuyển hình phạt tù sang nộp tiền, xem thủ tục sau khi bị truy tố.
Có hồ sơ hình sự ở Đài Loan thì lần sau có nhập cảnh được không?
Có thể bị ảnh hưởng. Cục Di trú Quốc gia có thể cấm nhập cảnh đối với người nước ngoài có hồ sơ phạm tội ở Đài Loan hoặc ở nước ngoài (Điều 18 khoản 1 mục 7 Luật Xuất nhập cảnh và Di trú); người “từng ở quá hạn, cư trú quá hạn hoặc làm việc bất hợp pháp” (mục 12) cũng vậy. Ngoài ra, theo Điều 95 Bộ luật Hình sự Đài Loan (中華民國刑法), người nước ngoài bị tuyên phạt tù có thời hạn trở lên có thể bị trục xuất sau khi chấp hành xong hình phạt hoặc được ân xá.
Khi nào nên hỏi luật sư?
Nếu bạn đã nhận văn bản hạn chế xuất cảnh, thời hạn lưu trú sắp hết, hoặc muốn biết vụ án ảnh hưởng thế nào đến việc về nước, hãy hỏi luật sư trước. Bài viết mang tính chung, không phải ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể của bạn.
