🌐 Tiếng Việt
繁體中文EnglishBahasa IndonesiaTiếng Việtไทย日本語한국어
Biểu mẫu tư vấn trực tuyến
Trang chủ / Hướng dẫn thủ tục / Hạn chế xuất cảnh

Bị hạn chế xuất cảnh, ra biển thì làm gì? Thời hạn, thông báo và cách khiếu nại

Khi nào bạn có thể bị hạn chế xuất cảnh, ra biển; văn bản thông báo phải ghi những gì; thời hạn tối đa khi điều tra và khi xét xử; cách xin hủy, xin thay đổi và khiếu nại.

Đối chiếu luật ngày 24/9/2026

Bài viết này dựa trên luật Đài Loan. Buổi tư vấn diễn ra bằng tiếng Trung; nếu cần phiên dịch, hãy cho chúng tôi biết khi gửi yêu cầu.

Điểm chính

Theo Điều 93-2 Bộ luật Tố tụng Hình sự Đài Loan, công tố viên hoặc thẩm phán chỉ có thể hạn chế bị cáo xuất cảnh, ra biển (限制出境、出海) khi nghi vấn người đó đã phạm tội là rất rõ, có thêm ít nhất một căn cứ luật định (không có nơi ở, nơi cư trú ổn định; có căn cứ hợp lý cho thấy có thể bỏ trốn; hoặc có căn cứ hợp lý cho thấy có thể tiêu hủy, làm giả, sửa đổi chứng cứ hay thông đồng với đồng phạm, nhân chứng), và việc hạn chế là cần thiết. Lưu ý: ở Đài Loan, người đang bị điều tra cũng được gọi là bị cáo (被告) dù chưa bị truy tố, khác với cách gọi "bị can" ở Việt Nam. Văn bản hạn chế phải ghi lý do, thời hạn và cách khiếu nại; bạn phải được báo trong vòng sáu tháng kể từ khi bị hạn chế, trừ khi không rõ nơi ở, nơi cư trú của bạn nên không thể báo. Khi điều tra, thời hạn ban đầu tối đa tám tháng; muốn kéo dài phải xin tòa quyết định, nhiều nhất hai lần, và trước khi quyết định tòa phải cho bị cáo và người bào chữa trình bày ý kiến. Khi xét xử, mỗi lần tối đa tám tháng, cộng dồn không quá năm năm hoặc mười năm tùy tội. Nếu bạn được quyết định không truy tố hoặc hoãn truy tố, hay được tuyên vô tội, miễn tố, miễn hình phạt, cho hưởng án treo, chỉ bị phạt tiền, được khiển trách thay hình phạt, hoặc có bản án không thụ lý theo một số trường hợp luật định, thì việc hạn chế coi như bị hủy; nhưng trong thời hạn kháng cáo hoặc khi đang kháng cáo, nếu cần vẫn có thể tiếp tục hạn chế. Bị cáo và người bào chữa có thể xin hủy hoặc thay đổi việc hạn chế bất cứ lúc nào. Có bị hạn chế hay không và bị bao lâu tùy vào sự việc, chứng cứ của từng vụ; bài viết không dự đoán kết quả.

Khi nào có thể bị hạn chế xuất cảnh, ra biển?

Theo Điều 93-2 khoản 1, trước hết nghi vấn bị cáo đã phạm tội phải rất rõ. Ngoài ra phải có ít nhất một trong ba tình huống: không có nơi ở, nơi cư trú ổn định; có căn cứ hợp lý cho thấy người đó có thể bỏ trốn; hoặc có căn cứ hợp lý cho thấy người đó có thể tiêu hủy, làm giả, sửa đổi chứng cứ, hay thông đồng với đồng phạm hoặc nhân chứng. Dù đủ các điều kiện này, công tố viên hoặc thẩm phán vẫn phải xét xem có thật sự cần hạn chế hay không. Nói cách khác, không phải cứ bị nghi phạm tội là bị hạn chế. Với vụ mà hình phạt nặng nhất chỉ là giam giữ ngắn hạn hoặc chỉ phạt tiền, không được trực tiếp hạn chế theo điều này.

Văn bản hạn chế phải ghi gì, và khi nào bạn được báo?

Theo Điều 93-2 khoản 2, văn bản hạn chế phải ghi: họ tên và thông tin nhân thân của bị cáo; vụ án và điều luật bị cho là vi phạm; lý do và thời hạn hạn chế; cơ quan thi hành; và cách khiếu nại nếu không đồng ý.

Văn bản này phải được gửi cho bị cáo chậm nhất sáu tháng sau khi bắt đầu hạn chế, trừ khi không rõ nơi ở, nơi cư trú của bị cáo nên không thể báo. Nếu bị cáo được hỏi cung trước khi nhận văn bản, người hỏi cung phải cho biết ngay tại buổi đó và trao văn bản. Nếu bạn đã biết mình bị hạn chế trước khi nhận văn bản, bạn cũng có quyền yêu cầu được giao văn bản đó (Điều 93-2 khoản 3–4).

Khi đang điều tra, bị hạn chế tối đa bao lâu?

Theo Điều 93-3 khoản 1, nếu công tố viên tự quyết định hạn chế thì không được quá tám tháng. Muốn kéo dài, công tố viên phải làm đơn nêu lý do cụ thể gửi tòa chậm nhất 20 ngày trước khi hết hạn, đồng thời gửi bản sao đơn cho bị cáo và người bào chữa. Công tố viên không thể tự mình gia hạn.

偵查中檢察官限制被告出境、出海,不得逾八月。但有繼續限制之必要者,應附具體理由,至遲於期間屆滿之二十日前,以書面記載前條第二項第一款至第四款所定之事項,聲請該管法院裁定之,並同時以聲請書繕本通知被告及其辯護人。(刑事訴訟法第93條之3第1項)

Tóm tắt không chính thức: Khi điều tra, công tố viên chỉ được tự hạn chế xuất cảnh, ra biển tối đa tám tháng; muốn kéo dài phải làm đơn có lý do gửi tòa trước khi hết hạn.

Gia hạn được mấy lần, và khi xét xử thì giới hạn ra sao?

Khi điều tra, tòa chỉ được gia hạn tối đa hai lần: lần đầu không quá bốn tháng, lần sau không quá hai tháng. Cộng với tám tháng ban đầu, tổng cộng tối đa là 14 tháng (Điều 93-3 khoản 2). Khi xét xử, mỗi lần tòa quyết định hạn chế không quá tám tháng và có thể gia hạn nhiều lần, nhưng cộng dồn không quá năm năm nếu tội có hình phạt nặng nhất từ mười năm tù trở xuống, và không quá mười năm với các tội khác.

Thời gian bị truy nã vì bỏ trốn không tính vào thời hạn hạn chế (Điều 93-3 khoản 3). Trước khi quyết định gia hạn, tòa phải cho bị cáo và người bào chữa cơ hội trình bày ý kiến (khoản 4). Sau khi bị truy tố và vụ án đã chuyển sang tòa, thời gian được kéo dài theo luật và phần thời hạn còn lại của giai đoạn điều tra đều được tính vào thời hạn của giai đoạn xét xử (khoản 5 và khoản 6).

偵查中檢察官聲請延長限制出境、出海,第一次不得逾四月,第二次不得逾二月,以延長二次為限。審判中限制出境、出海每次不得逾八月,犯最重本刑為有期徒刑十年以下之罪者,累計不得逾五年;其餘之罪,累計不得逾十年。(刑事訴訟法第93條之3第2項)

Tóm tắt không chính thức: Khi điều tra, công tố viên xin gia hạn tối đa hai lần, lần đầu không quá bốn tháng, lần sau không quá hai tháng. Khi xét xử, mỗi lần hạn chế không quá tám tháng; cộng dồn không quá năm năm với tội có hình phạt nặng nhất từ mười năm tù trở xuống, và không quá mười năm với các tội khác.

Khi nào việc hạn chế coi như tự động bị hủy?

Theo Điều 93-4, việc hạn chế coi như bị hủy khi bị cáo nhận quyết định không truy tố hoặc hoãn truy tố, hoặc khi tòa tuyên vô tội, miễn tố, miễn hình phạt, án treo, chỉ phạt tiền, khiển trách thay hình phạt, hay ra bản án không thụ lý theo Điều 303 điểm 3 hoặc 4. Đây là hệ quả do luật quy định thẳng, bạn không cần làm đơn riêng.

Tuy nhiên, nếu vụ án còn trong thời hạn kháng cáo hoặc đang được xét kháng cáo, và việc hạn chế vẫn cần thiết, bạn vẫn có thể tiếp tục bị hạn chế. Vì vậy hãy xem vụ của mình đang ở giai đoạn nào.

被告受不起訴處分、緩起訴處分,或經諭知無罪、免訴、免刑、緩刑、罰金或易以訓誡或第三百零三條第三款、第四款不受理之判決者,視為撤銷限制出境、出海。但上訴期間內或上訴中,如有必要,得繼續限制出境、出海。(刑事訴訟法第93條之4)

Tóm tắt không chính thức: Khi có quyết định không truy tố, hoãn truy tố hoặc một số loại bản án, việc hạn chế xuất cảnh, ra biển coi như bị hủy; nhưng trong thời hạn kháng cáo hoặc khi đang kháng cáo, nếu cần vẫn có thể tiếp tục hạn chế.

Bạn có thể tự xin hủy hoặc thay đổi việc hạn chế không?

Có. Theo Điều 93-5, bị cáo hoặc người bào chữa có thể xin công tố viên hoặc tòa án hủy hay thay đổi việc hạn chế. Khi điều tra, công tố viên cũng có thể tự làm đơn xin hủy, và ngay lúc nộp đơn có thể báo trước cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hoặc ra biển để gỡ hạn chế.

Khi điều tra, nếu đơn xin hủy không phải do công tố viên nộp, tòa phải hỏi ý kiến công tố viên trước khi hủy. Hạn chế do công tố viên đặt ra thì công tố viên có thể tự hủy hoặc thay đổi; nhưng khi đã truy tố và vụ án chuyển sang tòa, phần thời hạn còn lại do tòa tự xem xét hoặc xem xét theo đơn. Hạn chế do tòa đặt ra, dù trong điều tra hay xét xử, tòa cũng có thể tự hủy hoặc thay đổi (Điều 93-5 khoản 2–4).

Được bảo lãnh hoặc bị hạn chế nơi cư trú, có thể bị hạn chế xuất cảnh kèm theo không?

Có thể. Theo Điều 93-6, khi các quy định khác cho phép buộc nộp tiền bảo lãnh, giao cho người khác quản lý (責付) hoặc hạn chế nơi cư trú, thì cũng có thể hạn chế xuất cảnh, ra biển kèm theo. Khi đó, luật cho áp dụng tương tự Điều 93-2 khoản 2 về nội dung văn bản, và Điều 93-3 đến Điều 93-5 về thời hạn, gia hạn, trường hợp coi như bị hủy và việc xin hủy, thay đổi; chứ không áp dụng toàn bộ Điều 93-2. Nói cách khác, dù không có quyết định hạn chế riêng, bạn vẫn có thể bị hạn chế xuất cảnh cùng lúc với bảo lãnh hoặc hạn chế nơi cư trú, và thời hạn cũng như cách khiếu nại vẫn theo các quy tắc nói trên.

Không đồng ý với việc hạn chế thì khiếu nại bằng cách nào?

Trước hết phải xem ai ra quyết định. Nếu đó là quyết định của tòa, chẳng hạn quyết định gia hạn, thì đây là một trong những trường hợp ngoại lệ được kháng cáo quyết định (抗告) ngay cả khi chưa có bản án, theo Điều 404 khoản 1 điểm 2. Kể cả khi quyết định đã thi hành xong, người bị hạn chế vẫn có thể kháng cáo, và tòa không được bác đơn với lý do đã thi hành xong nên không còn ý nghĩa (khoản 2).

Nếu quyết định do thẩm phán chủ tọa, thẩm phán được giao (受命法官), thẩm phán được ủy thác (受託法官) hoặc công tố viên đưa ra, người bị hạn chế có thể xin tòa án có liên quan hủy hoặc thay đổi quyết định đó, kể cả khi đã thi hành xong; tòa cũng không được bác đơn với lý do đã thi hành xong nên không còn ý nghĩa (Điều 416 khoản 1 điểm 1 và phần cuối của cùng khoản). Thời hạn nộp đơn là 10 ngày, tính từ ngày ra quyết định; nếu quyết định được tống đạt thì tính từ ngày tống đạt (khoản 3).

Khi nào nên nhờ luật sư?

Khi nhận văn bản hạn chế, hãy xem ngay lý do, thời hạn, cơ quan ra quyết định và cách khiếu nại. Nếu bạn muốn xin hủy, xin thay đổi, hoặc không đồng ý và muốn khiếu nại, nên hỏi luật sư càng sớm càng tốt. Bài viết chỉ cung cấp thông tin chung, không phải ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, và không dự đoán việc bạn có bị hạn chế hay gia hạn hay không.

Đã nhận thông báo hạn chế và muốn biết mình bị hạn chế đến bao giờ, còn bao lâu để khiếu nại? Hãy trao đổi với luật sư.

Yêu cầu tư vấn
Nguồn: Cơ sở dữ liệu pháp luật Đài LoanBộ luật Tố tụng Hình sự ↗
Các vụ án có thể gặp trong giai đoạn nàyDu học sinh, lao động di trú nhận tiền