Bài viết này dựa trên luật Đài Loan. Buổi tư vấn diễn ra bằng tiếng Trung; nếu cần phiên dịch, hãy cho chúng tôi biết khi gửi yêu cầu.
- Tiếp nhận hay từ chốiTrong mười ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn (Điều 10)
- Đăng ký vào hệ thốngTrong bảy ngày làm việc kể từ ngày hôm sau ngày tiếp nhận, đồng thời báo cho người nộp đơn (Điều 11)
- Lập nhóm điều traDoanh nghiệp từ 100 lao động: trong 15 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận (Điều 14)
- Báo cáo điều traTrong hai tháng kể từ ngày hôm sau ngày lập nhóm; có thể gia hạn một tháng (Điều 17)
- Ra quyết địnhTrong một tháng sau khi có báo cáo; dưới 30 người: ba tháng, từ 30 đến 99 người: bốn tháng, tính từ ngày hôm sau ngày nhận đơn (Điều 18, 21)
- Lưu hồ sơBa năm (Điều 26)
Số lao động quyết định nghĩa vụ
| Số lao động | Nghĩa vụ chính |
|---|---|
| Từ 10 người | Lập kênh nhận đơn khiếu nại và công bố ở chỗ dễ thấy tại nơi làm việc (Điều 5). |
| Từ 30 người | Thêm: ban hành và công bố quy định về phòng ngừa, nhận đơn và kỷ luật; chỉ định bộ phận phụ trách; tổ chức đào tạo (Điều 6). Lập đơn vị xử lý đơn gồm ít nhất ba người, mỗi giới chiếm ít nhất một phần ba (Điều 9). |
| Từ 100 người | Thêm: lập nhóm điều tra trong 15 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đơn (Điều 14). |
Chỉ tính những người được thuê làm việc và nhận tiền lương. Nếu doanh nghiệp có đơn vị ở nhiều nơi, tính riêng số lao động của từng nơi (Điều 3).
Tiếp nhận hay từ chối đơn
Đơn có thể nộp bằng lời nói, email hoặc văn bản; nếu nộp bằng lời nói hoặc email, người tiếp nhận phải ghi lại và cho người nộp xác nhận nội dung (Điều 8). Trong mười ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, chủ sử dụng lao động phải quyết định có tiếp nhận hay không và thông báo bằng văn bản; nếu từ chối thì phải nêu lý do (Điều 10). Trong bảy ngày làm việc kể từ ngày hôm sau ngày tiếp nhận, phải đăng ký vụ việc vào hệ thống theo cách đã được công bố và báo cho người nộp đơn (Điều 11).
Có thể từ chối khi: sự việc không phải là bắt nạt nơi làm việc; đơn không có nội dung cụ thể; không có tên thật hoặc thông tin đủ để xác định người nộp; cùng sự việc đã bị từ chối hoặc đã giải quyết xong; đơn đã rút; hoặc đã quá hạn nộp đơn (Điều 10 khoản 2).
Biện pháp ngay khi biết sự việc
Nếu biết sự việc qua đơn khiếu nại, chủ sử dụng lao động phải: cân nhắc nguyện vọng của người nộp đơn để cách ly hoặc có biện pháp phù hợp, không được đối xử bất lợi với họ; cung cấp hoặc giới thiệu hỗ trợ pháp lý, y tế, tâm lý theo nhu cầu; bắt đầu điều tra; và căn cứ kết quả để kỷ luật hoặc xử lý thích đáng người có hành vi (Điều 7). Nếu biết sự việc không qua đơn, cũng phải phỏng vấn để làm rõ và cho người lao động bị bắt nạt biết những quyền họ có thể yêu cầu.
Thương lượng dàn xếp
Nếu người nộp đơn muốn, có thể tiến hành thương lượng dàn xếp (協調); người phụ trách dàn xếp phải được các bên đồng ý. Nếu một bên không muốn, hoặc đã quá một tháng kể từ ngày bắt đầu mà vẫn chưa thống nhất, phải dừng dàn xếp và tiếp tục điều tra (Điều 13). Thời gian dàn xếp trong quá trình điều tra không tính vào hạn hoàn thành báo cáo (Điều 17).
Tiến hành điều tra
- Nhóm điều tra (doanh nghiệp từ 100 lao động): ít nhất ba người, chuyên gia bên ngoài chiếm ít nhất một nửa, mỗi giới chiếm ít nhất một phần ba; thành viên nội bộ phải được đào tạo về phòng chống bắt nạt ít nhất ba giờ (Điều 14).
- Rút khỏi vụ việc: thành viên nào chính là đương sự hoặc có quan hệ thân thích theo luật định với đương sự thì phải tự rút; nếu có nguy cơ thiên vị, đương sự có thể yêu cầu người đó rút (Điều 15).
- Thủ tục: thông báo bằng văn bản; khi phỏng vấn, dùng ghi âm hoặc ghi hình để hỗ trợ và lập biên bản; không được để các bên đối chất với nhau; giữ gìn chứng cứ và giữ bí mật thông tin nhân thân (Điều 16 khoản 1). Người được phỏng vấn không được tự ghi âm hoặc ghi hình.
- Hạn báo cáo: hoàn thành trong hai tháng kể từ ngày hôm sau ngày lập nhóm; khi cần có thể gia hạn một tháng và phải báo cho các bên (Điều 17).
Quyết định, kỷ luật và xem xét lại
Chậm nhất một tháng kể từ ngày hoàn thành báo cáo, đơn vị xử lý đơn phải ra quyết định; cuộc họp phải có ít nhất một nửa số thành viên dự và được quá nửa số người dự đồng ý (Điều 18). Trong mười ngày làm việc sau khi có quyết định, phải thông báo bằng văn bản cho các bên và cho biết cách, thời hạn xin xem xét lại.
Nếu kết quả điều tra xác định có bắt nạt, chủ sử dụng lao động phải kỷ luật hoặc xử lý thích đáng người có hành vi tùy mức độ nặng nhẹ, trừ khi người đó đã nghỉ việc; mức độ được xét theo tổn hại về thể chất, tinh thần, số lần và cách thức, quan hệ giữa hai bên, thái độ sau đó và ảnh hưởng đến doanh nghiệp (Điều 19). Mỗi bên được xin xem xét lại một lần, trong 30 ngày kể từ ngày hôm sau ngày nhận thông báo (Điều 22). Đơn vị xử lý đơn phải ra quyết định có nêu lý do trong 30 ngày kể từ ngày họp xét đơn xin xem xét lại; nếu cần điều tra lại, được kéo dài thêm 30 ngày. Chủ sử dụng lao động phải báo bằng văn bản cho người xin xem xét lại và bên kia trong mười ngày làm việc kể từ ngày có quyết định (Điều 23 khoản 1).
Doanh nghiệp dưới 30 lao động phải ra quyết định trong ba tháng kể từ ngày hôm sau ngày nhận đơn; từ 30 đến 99 lao động là bốn tháng. Khi cần, cả hai đều có thể gia hạn một tháng và phải báo cho các bên (Điều 21).
Kết quả xử lý cũng phải được đăng ký vào hệ thống trong mười ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định (Điều 19 khoản 3). Nếu một bên khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền hoặc thanh tra lao động, và cơ quan này xác định việc điều tra trái quy định và có sai sót thủ tục nghiêm trọng, họ có thể yêu cầu điều tra lại, và chủ sử dụng lao động không được từ chối (Điều 24 của quy định; Điều 22-2 khoản 5 Luật An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp). Chủ sử dụng lao động còn phải theo dõi, đánh giá, giám sát việc thi hành kỷ luật và rà soát lại quy định phòng ngừa (Điều 25).
Hồ sơ và các vấn đề khác
Quá trình và kết quả phòng ngừa, tiếp nhận, thương lượng dàn xếp, điều tra và xem xét lại đều phải được ghi thành hồ sơ và lưu ba năm (Điều 26). Nếu vụ việc có yếu tố quấy rối tình dục tại nơi làm việc, xử lý theo từng quy định tương ứng và tránh hỏi đi hỏi lại (Điều 27). Sự việc xảy ra trước khi quy định có hiệu lực nhưng được tiếp nhận sau đó thì giải quyết theo quy định mới (Điều 28).
Mức phạt
| Trường hợp | Tiền phạt hành chính (罰鍰, Đài tệ) | Căn cứ |
|---|---|---|
| Không áp dụng ngay biện pháp hữu hiệu, không điều tra, xử lý hoặc không đăng ký theo quy định; một số trường hợp chỉ bị phạt khi đã được yêu cầu khắc phục trong thời hạn mà không khắc phục | 30.000–750.000; có thể tăng lên 1.125.000 | Điều 45 Luật An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp |
| Vi phạm nghĩa vụ phòng ngừa hoặc không áp dụng ngay biện pháp hữu hiệu, khiến người lao động mắc bệnh nghề nghiệp hoặc bệnh liên quan đến công việc | 50.000–3.000.000; có thể tăng lên 4.500.000 | Điều 43 khoản 1 mục 3 của luật trên |
| Người đứng đầu doanh nghiệp bị xác định có hành vi bắt nạt nơi làm việc | 10.000–1.000.000 | Điều 46 khoản 1 của luật trên |
Trang này là thông tin chung, không phải ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể.
